Dự án sân golf, biệt thự không thể áp giá đền bù đất phục vụ quốc phòng, an ninh

18:10 | 29/06/2020
Ngày 23/6, Tạp chí TTV đã đăng bài “Thực hiện Luật Đầu tư và Luật Đất đai nhìn từ dự án sân golf, nhà ở Quận 2 -TPHCM của SDI” viết về dự án 132,44 ha treo gần 20 năm nay. Áp dụng Luật không đúng, không đặt quyền lợi của người dân lên đầu, gây bức xúc khiếu nại kéo dài, dùng công cụ của Nhà nước để áp chế giải phóng mặt bằng là những gì đang diễn ra ở siêu dự án này.

Chủ trương đầu tư ghi thỏa thuận đền bù, khi thực hiện áp dụng Nghị định 22.

Xin được nhắc lại, Dự án Khu liên hiệp sân Golf – thể dục – thể thao và nhà ở tại Phường An Phú, Quận 2 TP.HCM được Sở KHĐT chấp thuận chủ trương đầu tư bằng Công văn số 185/CTDA-KHĐT-VX dựa trên những căn cứ của luật và nghị định hiện hành giai đoạn đó. Trên cơ sở đề xuất của UBND TPHCM, ngày 12/01/2001 Chính phủ ra Quyết định 57 về thu hồi đất, giao cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Sài Gòn (Công ty SDI) sử dụng 1.374.405 m2 để thực hiện dự án. Căn cứ Nghị định số 52 năm 1999 về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, Điều 6, Khoản 1 và Phụ lục ban hành kèm theo quy chế này thì dự án trên có tổng vốn đầu tư ban đầu là 147.797.510.000 VNĐ thuộc nhóm B, các UBND cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền phê duyệt thực hiện dự án đầu tư. Sở KHĐT TP.HCM là đơn vị được UBND Thành phố ủy quyền xem xét, chấp thuận dự án này.

Công ty SDI cố ý không hoàn thiện dự án, chuyển mục đích để thu lợi riêng?

Trong văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư số 185, Điều 6 thể hiện các hạng mục đầu tư chủ yếu, có ghi rõ những hạng mục như sau: Xây dựng hoàn chỉnh sân Golf 18 lỗ, sân tập, câu lạc bộ, nhà hàng, phòng nghỉ và văn phòng điều hành; Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu thể dục thể thao – vui chơi giải trí rồi kêu gọi các nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất; Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu nhà biệt thự (50 căn), phân lô nền và bán cho các đối tượng có nhu cầu; Các thiết bị, máy móc cho sân Golf và khối văn phòng, câu lạc bộ. Điều 8 thể hiện phương thức đền bù giải phóng mặt bằng (GPMB) là thông qua chính quyền địa phương để đền bù cho dân theo thỏa thuận; Chủ đầu tư có trách nhiệm phối hợp với các Sở – Ngành chức năng có liên quan để thực hiện việc đền bù nhằm đảm bảo quyền lợi cho dân.

Điều này hoàn toàn phù hợp với Nghị định 12 là nghị định bổ sung và điều chỉnh Nghị định 59, trong Điều 1, Khoản 11:  Đối với các dự án đầu tư và xây dựng có tính chất sản xuất, kinh doanh, chủ đầu tư chủ trì phối hợp với UBND địa phương để thống nhất phương án đền bù, kế hoạch GPMB, kinh phí, tiến độ và việc thanh quyết toán GPMB để UBND địa phương tổ chức thực hiện việc đền bù, GPMB xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng.

Còn Nghị định 22/1998/NĐ-CP là quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Trong Nghị định này xuyên suốt là các quy định áp dụng cho việc đền bù thiệt hại của nhân dân khi Nhà nước có nhu cầu thu hồi đất để sử dụng cho các dự án nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Trong đó thể hiện rõ ở Chương 1, Điều 1, Khoản 2, Mục đ: Đất do tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng cho dự án sản xuất kinh doanh, khu chế xuất, KCN , khu công nghệ cao, khu vui chơi giải trí, khu du lịch và các dự án đầu tư khác đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cấp phép đầu tư theo quy định của pháp luật.

Luật, Nghị định và các thông tư hướng dẫn là một công cụ quản lý chung của Nhà nước và Chính phủ; việc áp dụng Luật, Nghị định cho phù hợp với từng địa phương, từng dự án cụ thể là trách nhiệm của các cơ quan quản lý địa phương có tham mưu của các phòng ban chức năng áp dụng cho phù hợp và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người dân. Đối với dự án Khu liên hiệp sân Golf – Thể dục – thể thao và Nhà ở tại Phường An Phú, Quận 2, Sở KHĐT thành phố đã áp dụng một cách rất hợp lý và xem xét một cách khách quan để phê duyệt chủ trương chấp thuận đầu tư. Điều đáng nói là, khi thực hiện công tác đền bù GPMB, UBND Quận 2 và Công ty SDI lại áp dụng không theo văn bản của Sở KHĐT và muốn thực hiện đền bù theo quy định của Nghị định 22/1998 về thu hồi đất phục vụ cho các mục tiêu lợi ích quốc gia.

Hợp đồng khoán việc giữa SDI và Quận 2 căn cứ quy định nào?

Ngày 06/06/2001, Công ty SDI (Bên A) ký hợp đồng khoán việc cho UBND Quận 2 đại diện là ông Nguyễn Thế Lực, Phó ban thường trực Ban chỉ đạo công tác quy hoạch đền bù tái định cư Quận 2 (Bên B) với các căn cứ thực hiện là Nghị định 22/1998, Thông tư 145/1998, Hướng dẫn số 22/1998 của UBND TPHCM, Quyết định 57/2000 và công văn số 03/SDI: Bên B cùng hợp tác phối hợp với bên A để thực hiện các thủ tục pháp lý phù hợp với quy định hiện hành của Nhà nước trong việc kiểm kê, đền bù và GPMB dự án xây dựng Khu liên hiệp sân Golf, thể dục – thể thao và nhà ở tại Phường An Phú.

Hợp đồng khoán việc giữa Công ty SDI và UBND Quận 2.

Tuy nhiên, theo Nghị định 22/1998, Chương 6 quy định trách nhiệm của các cơ quan ban ngành thực thi nghị định này hoàn toàn không có điều khoản nào quy định việc doanh nghiệp, tổ chức ngoài cơ quan quản lý Nhà nước có thể thực hiện hợp đồng khoán việc cho Hội đồng đền bù GPMB. Theo đó, Hội đồng đền bù thiệt hại GPMB cấp huyện do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng, các thành viên khác gồm: Trưởng phòng tài chính, ủy viên thường trực hội đồng; Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn có đất bị thu hồi, ủy viên; Đại diện MTTQ quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, ủy viên; Chủ dự án (chủ sử dụng đất), ủy viên; Đại diện những người được đền bù thiệt hại. Các thành viên khác do Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế của mỗi công trình. Trong Thông tư 145 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 22 tại Phần e cũng không hề đề cập đến sự phối hợp giữa doanh nghiệp, tổ chức cá nhân làm chủ đầu tư với các cơ quan quản lý Nhà nước dựa trên cơ sở hợp đồng khoán việc như trên.

Vậy UBND Quận 2 dựa trên cơ sở nào của quy định Nhà nước để triển khai hợp đồng khoán việc?  Nếu hợp đồng này không đúng luật thì các việc phát sinh từ hợp đồng này có hiệu lực hay không?

UBND Quận 2 liên tục điều chỉnh, huỷ bỏ chính quyết định của mình

Được biết, dự án này có 330 hộ bị ảnh hưởng và nằm trong danh sách được đền bù, trong đó 92 hộ không đồng ý với mức giá đền bù mà UBND Q.2 áp theo phương án 30PA-UB ngày 19/09/2003 do UBND TPHCM phê duyệt và các hộ này bị tiến hành cưỡng chế. Điều này dẫn đến các khiếu kiện, khiếu nại kéo dài nhiều năm.Theo những hộ dân này, họ sẵn sàng giao đất nếu Nhà nước cần, tuy nhiên phải làm đúng.

Điển hình là trường hợp của bà Nguyễn Thị Hồng, địa chỉ 36 Lê Lợi, Phường Bến Nghé, Quận 1. Ngày 28/7/2006, Chủ tịch UBND Quận 2 ban hành Quyết định số 2254/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại GPMB và tái định cư với tổng số tiền 1.897.500.000đồng. Diện tích của gia đình bà Hồng bị thu hồi là 5.060 m2. Bà Hồng không đồng ý và khiếu nại lên UBND Quận 2. Bà Hồng không đồng ý vì Phương án 30PA-UB của UBND TPHCM là để áp dụng đền bù GPMB cho loại đất bị thu hồi theo Nghị định 22 trong khi dự án của SDI không thuộc loại này. Hơn nữa, sự chậm trễ trong công tác đền bù GPMB, việc áp giá đền bù cũ trong khi đồng tiền bị trượt giá, giá đất tăng cao, thiệt hại của người dân nhìn thấy hàng ngày thì việc bà Hồng cũng như các hộ dân khác khiếu kiện là điều dễ hiểu .

Ngày 04/04/2007, UBND Quận 2 ban hành Quyết định số 2592 về việc cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, GPMB. 6 tháng sau tức ngày 04/10/2007, Chủ tịch UBND Quận 2 bác đơn khiếu nại của bà Hồng. Bà Hồng tiếp tục khiếu nại.

Gần 4 năm sau, ngày 05/8/2011, UBND Quận 2 ra Quyết định số 9863 về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số N643644 do UBND Quận 2 cấp cho bà Hồng. Sau đó, ngày 22/8/2011, UBND Quận 2 lại ra Quyết định số 10766 về điều chỉnh một phần căn cứ của Quyết định số 9863, theo đó hủy bỏ: “căn cứ vào Quyết định số 1997 của UBND thành phố về việc thu hồi và giao đất xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm” và thay thế bằng “căn cứ vào Quyết định số 57 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao cho Công ty Đầu tư và Phát triển Sài Gòn sử dụng đất để đầu tư xây dựng Khu liên hiệp sân Golf – Thể dục – thể thao và nhà ở tại Phường An Phú, Quận 2”.

Chưa hết, tới ngày 14/02/2014, UBND Quận 2 tiếp tục ban hành Quyết định số 1972 điều chỉnh một phần Quyết định số 9863 tại phần trích yếu: “thu hồi GCNQSDĐ số N 643644 của Sở Nhà Đất” thành nội dung “thu hồi GCNQSDĐ số N 643644 của UBND Quận 2”. Hủy bỏ nội dung: “căn cứ vào Quyết định số 1997 của UBND thành phố về việc thu hồi và giao đất xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm” và thay thế nội dung “căn cứ vào Quyết định số 57 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao cho Công ty Đầu tư và Phát triển Sài Gòn sử dụng đất để đầu tư xây dựng Khu liên hiệp sân Golf – Thể dục thể – thao và nhà ở tại phường An Phú, Quận 2”. Chỉ một việc, tại sao UBND Quận 2 liên tục ra các quyết định điều chỉnh, huỷ bỏ chính quyết định của mình như vậy ? Phải chăng nó bắt nguồn từ việc UBND Quận 2 và Công ty SDI ngay từ đầu thực hiện trái nội dung của chủ trương chấp thuận đầu tư số 185 của Sở KHĐT TPHCM: đền bù theo nguyên tắc thoả thuận giữa chủ đầu tư và người dân và lập hợp đồng khoán việc không đúng quy định ?

Theo phản ảnh của người dân thì việc thỏa thuận giữa chủ đầu tư cùng cơ quan quản lý Quận 2 và người dân là không có. Ngày 11/06/2004, UBND Phường An Phú tổ chức họp triển khai dự án 137 ha (theo tên biên bản ghi lại) với nội dung: “triển khai phương án đền bù xây dựng Khu liên hợp thể dục-thể thao dự án 137 ha Phường An Phú.” Cuộc họp này có 134 hộ tham dự nhưng chỉ có 7 ý kiến và tất cả đều phản đối phương án đền bù. Ông Đỗ Thanh Phong, Chủ tịch UBND Phường An Phú khẳng định cùng các hộ dân: Một buổi họp triển khai phương án đền bù dự án 137 ha mà chỉ diễn ra trong vòng 1 giờ 45 phút, tính minh bạch của phương án đền bù  đã được phê duyệt nằm ở đâu? Hay chỉ triển khai lấy lệ và sau đó ai không chấp thuận thì bị cưỡng chế?

Việc đền bù GPMB không thuận được dân, áp chế và dụng luật quá nguyên tắc cũng như phương án làm việc chậm trễ gây thiệt hại cho người dân đã thể hiện rõ trong Kết luận kiểm tra số 7850 của Sở TNMT vào ngày 30/10/2009 khi dự án đã được chấp thuận 7 năm nhưng chỉ đền bù giải phóng mặt bằng 284/330 hồ sơ với diện tích 1.092.672,66m2/1.397.883m2, trong đó có đến 92 hồ sơ phải thực hiện cưỡng chế với diện tích 301.022,2m2.

Phán quyết trái ngược nhau của các cấp toà án

Ngày 25/9/2012, bà Hồng khởi kiện yêu cầu TAND Quận 2 tuyên hủy 05 quyết định hành chính của UBND Quận 2 là: Quyết định số 2254 về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại GPMB của bà Hồng; Quyết định số 2592 về việc cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, GPMB của thửa đất bà Hồng; Quyết định số 9863 về việc thu hồi Giấy chứng nhận QSDĐ của bà Hồng; Quyết định 10766 về việc điều chỉnh một phần nội dung Quyết định số 9863 và Quyết định số 1972 về việc điều chỉnh nội dung Quyết định số 9863 UBND Quận 2, TPHCM. Nhưng TAND Quận 2 bác đơn yêu cầu khởi kiện của bà Hồng. Bà Hồng có đơn kháng cáo.

Ngày 26/12/2012, cấp phúc thẩm của TAND TPHCM không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Bà Hồng một lần nữa lại phải đưa đơn đi thưa kiện tiếp tục về quyết định của cấp phúc thẩm.

Các bản án trái ngược nhau, người dân chịu thiệt.

Ngày 12/10/2016, TAND cấp cao tại TPHCM đã tuyên: Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 1608 ngày 26/12/2012 của TAND TPHCM; và hủy Bản án sơ thẩm số 15 ngày 25/9/2012 của TAND Quận 2, TPHCM. Giao hồ sơ vụ án cho TAND Quận 2 xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.

Sau đó, ngày 07/10/2019, Chánh án TAND Tối cao (do ông Nguyễn Văn Du, Phó Chánh án) ký Quyết định số 44 để kháng nghị đối với Quyết định giám đốc thẩm số 18 ngày 12/10/2016 của TAND cấp cao tại TPHCM theo hướng: Đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Quyết định giám đốc thẩm số 18 ngày 12/10/2016 của Ủy ban thẩm phán, TAND cấp cao tại TPHCM; giữ nguyên Bản án hành chính phúc thẩm số 1608 ngày 26/12/2012 của TAND TPHCM; tạm đình chỉ thi hành quyết định giám đốc thẩm nêu trên cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Tại sao lại có những quan điểm phán quyết đối ngược nhau của các cấp Tòa án như nêu ở trên?

Với những gì đã và đang diễn ra tại dự án cũng như đang diễn ra qua các phiên tòa, người dân mong muốn sự vào cuộc nghiêm túc của các cơ quan chức năng để xác định rõ ràng những gì mà người dân đang còn vướng mắc và giải quyết những thiệt hại mà họ phải chịu do các bên tham gia vào quá trình triển khai dự án và xét xử khiếu kiện gây ra.

Một vụ tranh chấp tương tự đã được Tòa án Nhân dân Tối cao ra thông báo số 444/TB-TA vào ngày 27/09/2019 về giải quyết đơn đề nghị Giám đốc thẩm gửi đến UBND Quận 2 TPHCM; Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Sài Gòn, đã khẳng định một lần nữa về Dự án xây dựng khu sân Golf, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, khu nhà ở, biệt thự được chấp thuận và phương thức đền bù thỏa thuận với người có đất bị thu hồi, vì dự án này không thuộc dự án với mục đích quốc phòng, an ninh lợi ích Quốc gia, lợi ích cộng đồng nhưng UBND Quận 2 lại áp giá bồi thường và chủ đầu tư không đền bù cho ông Vũ Trọng Vinh theo phương thức thỏa thuận giữa hai bên ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ông Vinh.

TTV sẽ tiếp tục thông tin và phân tích các khía cạnh pháp luật liên quan đến dự án này!

 Anh Vũ

Bình chọn bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan