Thầm ước của cô giáo Vàng Ha De

19:25 | 19/11/2020
Những ai đã từng lên các vùng núi xa xôi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, từ bắc vào nam, chứng kiến hành trình một ngày tới nơi gọi là điểm trường hay ở lại cùng các giáo viên này khu nội trú mới cảm nhận rõ sự khác biệt đến đối lập giữa cuộc sống mà chúng ta đang thụ hưởng nơi thành phố và cuộc sống họ đang phải chịu đựng chốn thâm sâu cùng cốc. Với trọng trách của nghề “trồng người”, họ thực sự là những anh hùng, những anh hùng không ồn ào, chỉ làm những việc giản đơn, bình dị nhất từng ngày, từng ngày. Tiến bộ của đồng bào dân tộc thiểu số hôm nay có đóng góp vô cùng to lớn nhưng thầm lặng của lớp lớp những giáo viên chẳng mấy ai biết đến tên này.

    Chữ “trọng trách”dùng cho các giáo viên vùng dân tộc thiểu số là khái niệm khách quan và tự thân. Bởi họ sống cùng đồng bào chứ không chỉ mỗi việc là dạy chữ cho con em đồng bào. Nói như thầy giáo K’Dĩnh, Trường Tiểu học Tân Phúc 1 (huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận) tại cuộc gặp tại Hà Nội trong Chương trình “Chia sẻ cùng thầy cô” vừa qua: “Tại các buôn làng, đồng bào thường coi giáo viên là người có uy tín”. Trò coi thầy cô như cha mẹ, nhìn vào như tấm gương để học hành; đồng bào (không chỉ là phụ huynh)coi giáo viên là người có uy tín để hỏi, để lắng nghe, làm theo. Đó là niềm hạnh phúc nặng trọng trách và cũng là nỗi niềm khó nói của nhiều giáo viên vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Họ được tôn trọng và đề cao, nhưng chính những giáo viên này lại hàng ngày phải đối mặt với những khó khăn quá lớn, có những khó khăn kéo dài ngày thành nỗi khổ không dễ nói ra bằng ngôn từ miêu tả đúng nghĩa.

    Cách đây gần 10 năm, tôi cùng nhóm anh em báo Nông Thôn Ngày Nay lên Trường Tiểu học Nà Ca (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng). Xong phần thủ tục trao quà, các em học sinh chạy túa ra phía sau các lớp học để đi vệ sinh. Phần lớn là các em trai, cứ hồn nhiên…vạch quần ra tè. Tôi tò mò tự hỏi: Vậy các em học sinh gái và các cô thì sao (trường chí có giáo viên nữ) ? Từ nhu cầu tìm thông tin của người làm báo, tôi lẳng lặng theo dõi nhóm không thể dễ dãi “vạch quần”như mấy cậu con trai kia được này. Các cô đi trước, các trò gái theo sau. Họ men theo dốc sườn đồi, tay bám bụi cây, trượt dần xuống chân dốc, tìm chỗ kín xa lớp học. Ra là vậy ! Đoán ra nơi “giải nỗi buồn”của họ tôi quay lại sân trường mà lòng buồn khôn tả. Hôm ấy trời nắng. Hôm trời mưa gió bấc thì sao ? Thương các cô, các học trò gái mà nước mắt muốn trực trào.

    Lâu không có dịp trở lại Bảo Lâm, ngày 20/11 năm nay tôi nhắn tin chúc mừng và hỏi một cô giáo từng dạy một điểm trường mà tôi đã tới làm việc, rằng đã có nhiều cải thiện điều kiện dạy và học cho các thầy trò vùng cao chưa. Cô bảo, có đấy nhưng chẳng đáng là bao. Cô giáo dân tộc Tày, hàng chục năm gắn bó với lớp học giữa lưng chừng núi bưng bằng phên nứa mùa đông gió lùa rét thấu xương. Và tôi tin lời cô giáo này nói “thay đổi chẳng đáng là bao”là đúng khi đọc được lời ước thầm của cô giáo Vàng Ha De (sinh năm 1990, dân tộc La Hủ)ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trong buổi gặp với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam mới đây tại Hà Nội: “Nhiều lúc tôi chỉ thầm ước điểm trường được xây dựng kiên cố hơn, có nhà vệ sinh để cô trò bớt khó khăn”. Cô giáo Vàng Ha De kể: “Lớp học của cô trò chúng tôi dựng bằng ván gỗ, điều kiện vật chất thiếu thốn đủ đường, nhưng tôi và các đồng nghiệp vẫn cố gắng vừa công tác tốt, vừa thay phụ huynh chăm lo cho học sinh từ việc giặt giũ đến vệ sinh cá nhân.”

    “Có nhà vệ sinh để cô trò bớt khó khăn”-cô giáo người dân tộc La Hủ nói khiêm tốn và tế nhị làm nhẹ chuyện “khó khăn”này đi nhiều quá. Có lên tận trường, chứng kiến cảnh các cô giáo, các em học sinh gái đã lớn phải cố nhịn chuyện vệ sinh như thế nào mới thấu hết chữ “khó khăn” mà cô gáo Vàng Ha De đã nói. Trước khi Trường Tiểu học Nà Ca được tài trợ xây dựng, tôi hỏi chuyện vệ sinh, các cô bảo, thường phải nhịn suốt buổi dạy, khi về nhà (cách trường hơn 7km)mới…giải quyết. Có hôm đang dạy bị đau bụng đành cho trò tạm nghỉ để về nhà…rồi quay lại dạy tiếp !

    Cô giáo và học trò vùng cao Tây Bắc. Ảnh: fb Trần Đăng Tuấn

    Sau những ngày tận mắt chứng kiến nỗi vất vả, khó khăn của những giáo viên vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, tôi trở nên dị ứng khi về thành phố, bước vào các công sở dùng tiền ngân sách xây, lắp đặt những thứ xa hoa đến thừa thãi. Thậm chí tôi thấy ghét chủ nhân những công trình ấy. Hình ảnh những em học sinh co ro trong lớp học quây bằng một lớp vách nứa, ván gỗ mỏng ở các điểm trường cheo leo vách núi; hình ảnh các cô đi trước, các em học trò gái theo sau bám bụi cây trượt dần xuống dốc tìm chỗ kín đi vệ sinh là thứ ám ảnh, không dễ xoá đi được.

    Dự thảo báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, có nêu: Chênh lệch về hưởng thụ văn hoá giữa các vùng, miền còn lớn, đời sống văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Dự thảo cũng chỉ ra một thực tế: Nguy cơ tái mù chữ có xu hướng tăng ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.Thực trạng này không mới, đáng tiếc là tiếp tục lặp lại ở nhiệm kì vừa qua. Đúng là không thể xoá hết ngay những khó khăn của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số. Nhưng chủ trương xoá điểm trường tạm bợ, mọi lớp học đều có nhà vệ sinh đã hô hào nhiều năm nay, liệu có phải do đất nước không đủ tiềm lực để giải quyết trong vài năm hay do Chính phủ, chính quyền các địa phương thiếu quyết sách đúng, thiếu biện pháp đủ mạnh để giải quyết ? Hãy nhìn những công sở được ngân sách đầu tư hàng trăm tỉ ở Hà Nội, ở các thành phố nghênh ngang lầu nọ, phòng kia nhưng không sử dụng hết, trong khi thử tính số tiền cần để xây một điểm trường và làm nhà vệ sinh một trường tiểu học hết bao nhiêu tiền ? Hãy nhìn cái cách một số sở giáo dục chấp nhận giá thầu một số thiết bị trường học cao hơn giá thị trường cả mấy chục lần do một công ty đáng ngờ chào thầu. Hãy sục vào kho nhiều trường học ở thành phố, xem cả đống thiết bị đắt tiền nhà trường phải nhận về rồi xếp kho, bỏ mặc hư hỏng. Mặc dù đầu tư cho vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số nói chung và ngành giáo dục các vùng này nói riêng hàng năm là rất lớn nhưng xét trên quan điểm đầu tư vào các việc, địa bàn mang tính tối cần thiết, tối quan trọng, rõ ràng nỗi niềm của cô giáo Vàng Ha De cũng như nhiều đồng nghiệp của cô trên khắp cả nước bao năm vẫn chỉ là “mơ thầm” thôi. Làm chính sách giáo dục không chỉ cần tầm nhìn mà cần cái tâm trước hết là vậy.

    Sau khi lắng nghe nỗi niềm của các thầy cô giáo dân tộc thiểu số tiêu biểu ngày 16/11 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định sẽ vận động các cấp, các ngành và toàn xã hội chung tay hỗ trợ, cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, đời sống sinh hoạt, tinh thần của giáo viên vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trong các vấn đề cụ thể từ lớp học đến nhà vệ sinh, phủ sóng điện thoại…Vận động xã hội chung tay chia sẻ với thầy trò vùng cao, vùng dân tộc thiểu số là hoạt động tự nguyện. Ngành giáo dục khu vực này đang cần một bảo đảm chính sách rõ ràng, triệt để và công bằng hơn từ Chính phủ, chính quyền các địa phương. Bởi những giáo viên này không chỉ làm nhiệm vụ dạy chữ cho học sinh mà họ sống cùng những đồng bào đang hàng ngày bảo vệ phên giậu lãnh thổ quốc gia.

    Hải Đức

    Bình chọn bài viết:

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    Bài viết liên quan